Chuyện quan thanh liêm xưa và nay

 

Quan thanh liêm thì ở thời nào, đất nước nào chẳng có, nhưng chắc là thiểu số so với số lượng quan tham nhũng. Các bài học về đạo làm quan tốt, “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” lúc nào chả có, từ trong trường lớp đến ngoài đời, từ các bậc thánh hiền ngày xưa đến các vị thức giả ngày nay. Biết cho vui vậy thôi, chứ khi làm không vậy, ít nghĩ đến lợi ích của người dân mà nghĩ nhiều đến chuyện vơ vét cho thỏa lòng tham. Nhưng mà túi tham không đáy, làm sao cho đầy được đây? Chuyện đó nhỡn tiền, ai chẳng thấy! Thôi thì cùng ôn lại những tấm gương sáng quan thanh liêm để mong sao mình và người được tốt hơn, mà cùng vui sống trong thời đại “thái bình thịnh trị” vẫn là cái đích  xa vời trên con đường phía trước!

Bộ trưởng Trương Đình Tuyển

Bộ trưởng Trương Đình Tuyển

1. Gương xưa:

Tham là một bệnh lớn nhất trong thiên hạ và dễ mắc hơn tấc cả các bệnh, cho nên Thanh Liêm là một đức quí nhất và cũng khó rèn luyện nhất trong các Đức.

Tuy vậy, người vẫn còn để lại nhiều gương sáng cho đời soi. Như Công Nghi Hưu thời Chiến Quốc, là một.

Công Nghi Hưu làm tướng nước Lỗ, tánh rất thích ăn cá. Nhưng, một hôm, có người đêm cá đến biếu. Ông lại không nhận. Người em ngạc nhiên hỏi, ông đáp:

– Người ta đem cá cho chắc có ý muốn cầu ta việc gì. Nếu ta nhận thì ta phải giúp việc cho người. Giúp việc cho người, lỡ trái phép nước thì đến mất quan. Mà mất quan, thì chẳng những không có cá biếu, đến cả cá mua cũng không có nữa. Không nhận cá chính ta muốn có cá ăn hoài vậy.

Như thế là Thanh Liêm. Nhưng bằng theo lời nói trên đây xét thì lòng Thanh Liêm của Công Nghi Hựu không tuyệt đối, vì còn sự cân nhắt lợi hại, thiệt hơn. Chưa bằng Dương Chấn đời Hậu Hán.

Dương Chấn tiến cử Vương Mật ra làm quan. Sau đó Dương công được bổ đi làm Thái Thú Đông Lai, đi ngang qua đất Xương Ấp là nơi Vương Mật cai trị. Nhớ ơn đề bạt ngày xưa, Vương Mật xin đến yết kiến rồi đêm khuya đem vàng đến dâng Dương công. Công từ chối và bảo:

– Trước kia biết ông là người khá, tôi mới tiến cử ông. Thế mà ông vẫn chưa rõ bụng, còn đem vàng cho tôi ?

Vương Mật cố này ép, thưa:

– Xin Ngài nhận cho. Đêm khuya không ai biết.

Công liễm dung đáp:

– Trời biết, đất biết, ông biết, tôi biết. Sao gọi rằng không ai biết?

Vương Mật nghe nói xấu hổ bưng vàng lui ra.

Tấm lòng của Dương Chấn thật sáng tỏ như mặt trời ban trưa. Nhưng chưa bằng lòng

Tư Hãn đời Xuân Thu.

Tư Hãn làm quan giữ thành nước Tống. Có người được viên ngọc đem biếu, Tư Hãn không nhận. Người biếu ngọc thưa:

– Ngọc này tôi đã đem cho thợ ngọc xem. Quả là thứ ngọc báo mới dám đem dâng Ngài. Xin Ngày nhận cho tôi được vui lòng.

Tư Hãn đáp:

– Nhà ngươi cho ngọc là của báo, ta cho tánh không tham là của báu. Ngươi đem ngọc cho ta, nếu ta nhận, thì hai bên điều mất của báu. Âu là ngươi cứ đem về. Của báu ai nấy giữ. Như thế cả hai đều còn của báu, thì chẳng hơn sao ?

Người biếu ngọc cúi đầu thưa:

– Chúng tôi là thường dân mà giữ ngọc báu thì e không tránh khỏi trộm cướp, mà có khi còn bị hại đến thân.

Tư Hãn bèn lưu người biếu ngọc ở lại. Đoạn tìm thợ đến dũa ngọc rồi đem bán lấy tiền trao cho người chủ ngọc mang về.

Tấm lòng của Tư Hãn vừa liêm khuyết vừa nhân hậu và cách xử sự kia cao đẹp không chi bằng!

Làm quan mà được như Công Nghi Hựu, như Dương Chấn, trên đời kể không được nhiều lắm. Đến như Tư Hãn thì xưa nay e chưa có người thứ hai.

Mà xưa nay nhiều người lầm tưởng rằng đức Liêm chỉ cần cho người có quyền có thế. Cho nên chỉ nghe nói đến quan Thanh Liêm chứ không nghe nói đến dân Thanh Liêm. Thật ra Thanh Liêm là thu liễm lòng tham lại để cho phẩm hạnh được trong sạch, thì riêng gì người làm quan, người có quyền có thế mới có đức Liêm. Và người Liêm chẳng những không tham lợi, mà đến danh cũng không tham. Gặp phú quí mà không phải đạo thì người Liêm nhất định không nhận. Như người bán thịt dê ở nước Sở thời Xuân Thu.
Người bán thịt dê ấy tên là Duyệt. Vua nước Sở là Chiêu Vương bị giặc đánh phải bỏ nước chạy, người bán thịt dê cũng chạy theo. Sau vua Chiêu Vương lấy lại được nước, bèn thưởng cho những kẻ tòng vong. Người bán thịt dê cũng ở trong đám được thưởng.

Ai nấy đều nhận, chỉ có người bán thịt dê từ chối, nói rằng:

– Trước nhà vua mất nước, tôi mất nghề bán thịt dê. Nay nhà vua lấy lại được nước, tôi được trở lại nghề bán thịt dê. Thế là tôi giữ được nghiệp cũ, đủ ăn rồi, còn đâu dám mong thưởng nữa.

Nhà vua cố ép. Người bán thịt dê thưa:

– Nhà Vua mất nước không phải là tội tôi, nên tôi không dám liều chết. Nhà Vua lấy lại nước không phải là công tôi, nên tôi không dám lãnh thưởng.

Nhà Vua bảo:

– Để rồi ta đến nhà của ngươi chơi vậy.Người bán thịt dê đáp:

– Theo phép nước Sở, người nào có công to, được trọng thưởng thì Vua mới đến nhà. Nay tôi xét bản thân tôi, mưu trí không đủ giữ được nước, dũng cảm không đủ giết được giặc. Quân giặc vào nước, tôi lánh nạn, phải theo nhà Vua, chớ có phải cốt theo giúp nhà Vua đâu. Nay nhà Vua bỏ phép nước, đến chơi nhà tôi, e thiên hạ nghe thấy chê cười vậy.

Vua Chiêu Vương nghe nói quay lai bảo quan Tư Mã Tử Kỳ rằng:

– Người hàng thịt dê này tuy làm nghề vi tiện mà giãi bày nghĩa lý rất cao xa. Nhà ngươi làm thế nào mời ra nhận chức Tam Công cho ta.

Người hàng thịt dê nói:

– Tôi biết chức Tam Công quí hơn nghề bán thịt dê, bổng lộc nghìn vạn, giàu hơn tiền lãi bán thịt dê. Nhưng tôi đâu dám ham tước lộc mà để Vua mang tiếng là gia ơn không phải nghĩa. Tôi thực không dám nhận. Xin cho tôi về giữ lấy nghề bán thịt dê của tôi.

Nói đoạn lui ra ngay.

Người bán thịt dê không nhận thưởng vì biết mình không có công cán gì, không nhận chức vì biết mình không có tài cán hơn người. Như thế thật là Liêm. Và đó là một tấm gương ” dân liêm ” vậy.

Lòng liêm khiết của các nhân vật nói trên là không tham danh, không tham lợi do người khác đem đến. Cũng đã thật cao, nhưng chưa tuyệt cao. Lòng liêm của Duyên Lăng Quí Tử đời Xuân Thu mới thật là tuyệt.

Duyên Lăng Quí Tử ở nước Ngô sang sứ nước Tấn, ghé qua chơi với Vua nước Từ. Vua nước Từ thấy Quí Tử mang thanh bảo kiếm, có ý muốn xin mà không muốn nói ra. Quí Tử đoán biết, định bung sẽ dâng kiếm cho nhà vua sau khi lo xong sứ mệnh. Nhưng khi về qua nước Từ thì Vua Từ đã mất. Quí Tử toan trao cho tự quân. Kẻ tùy tùng ngăn lại, nói:

– Thanh kiếm này là vật báo của nước Ngô, không phải thứ để tặng.

Quí Tử đáp:

– Không phải là ta tặng. Độ trước ta ghé lại đây, Vua Từ xem kiếm ta, tuy ý muốn, nhưng không nói ra. Vì ta còn phải đi sứ thượng quốc nên chưa dâng được. Tuy vậy bụng đã định cho. Nay Vua Từ mất mà ta không hiến thanh kiếm, thì ta tự dối lòng ta. Tiếc kiếm mà dối tâm người Liêm không chịu làm.

Nói đoạn tháo kiếm trao cho tự quân. Tự quân nói:

– Tiên quân không dặn việc ấy nên tôi không dám nhận kiếm.

Quí Tử bèn đem kiếm treo nơi mộ Vua Từ rồi đi.

Chao ôi! Liêm đến mức ấy thì thật quá đỗi cao, người đời không thể nào với tới. Chúng ta có thể theo kiệp chăng, hoạ may theo kịp Công Nghi Hựu, Dương Chấn là hết sức …Đã biết rằng không phải ai ai cũng có thể thành hiền, thành thánh, nhưng ai nấy đều có thể lấy hiền thánh mà tự kỳ.

Tây triết có câu ” Vouloir c’ est pouvoir” nghĩa là ” muốn thì được “. Chúng ta thử rủ nhau ” muốn Liêm ” xem sao.

(Quách Tấn)

2. Những vị quan thanh liêm trong thời PK ở nước ta:

Chắc là  nhiều, nhưng không có điều kiện tra cứu đầy đủ, nên chỉ xin dựa vào báo chí, nói qua vài người trong triều Nguyễn, như:

– Phạm Thận Duật, hiệu Vọng Sơn, sinh năm 1825 trong một gia đình trí thức nho học nghèo ở Yên Mô Thượng, xã Yên Mạc, huyện Yên Mô, Ninh Bình. Từ nhỏ, ông chủ yếu học các ông giáo làng và tự đi thi ra làm quan. Năm 1850, ông thi đỗ cử nhân ở trường Nam và năm 1851 ra làm quan  dưới triều Nguyễn thời Tự Đức. Gần 20 năm liên tục làm quan tỉnh Bắc Ninh, ông lần lượt giữ các chức Tri châu Quế Dương, Tri phủ Lạng Giang, Bang biện tỉnh vụ kiêm Đồn điền sứ, Án sát sứ rồi Bố chính Bắc Ninh. Sau đó giữ chức Tuần phủ Hà Nội, Bắc Ninh, Hộ lý Tổng đốc Bắc Ninh – Thái Nguyên..Phạm Thận Duật là vị quan yêu nước, ông luôn quan  tâm đến vận mệnh Tổ quốc trước tình hình thực dân Pháp xâm lược nước ta.

Bên cạnh những cống hiến trong phong trào chống Pháp, cuộc đời và sự nghiệp của Phạm Thận Duật còn là tấm gương sáng về đức tính thanh liêm, chính trực đối với dân, với nước.

– Lê Trung Lượng (thân phụ của Lê Trung Đình – một nhân vật lịch sử nổi tiếng ở Quảng Ngãi) sinh vào khoảng những năm 20 của thế kỷ XIX. Ông đậu cử nhân khoa Nhâm Tý (1852) tại trường thi Bình Định. Một thời gian sau, Lê Trung Lượng được bổ giữ chức Tri huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ở cương vị này ông có điều kiện thi thố tài năng, thực hiện trách nhiệm dân chi phụ mẫu ( cha mẹ của dân). Ông đóng góp một phần đáng kể vào công cuộc khẩn hoang nhằm mở rộng diện tích canh tác, thiết lập những ngôi làng mới được dân chúng sở tại tôn làm phước hiền.

Là một người nổi tiếng thanh liêm như Tự Đức đã từng ban khen “Thanh như Lượng”, và mang trong mình khí tiết cao quý của một kẻ sĩ.

– Phạm Văn Toán: Tổng đốc Nam Định Phạm Văn Toán được triều Nguyễn phong cho hàm Thái tử Thiếu bảo năm 1909. Là quan thanh liêm, tận tụy với việc triều chính, hết lòng thương dân, lại giỏi thơ phú, cụ đã có nhiều đóng góp đáng kể cho đất nước và được thờ ở đền Mây (Phố Hiến), đền Cố Trạch (Nam Định), miếu ở Đồ Sơn (Hải Phòng). Hiện cụ được con cháu dòng họ Phạm thờ cúng trọng vọng ở  ngõ 56, phố Pháo Đài Láng (Đống Đa, Hà Nội).

3. Những tấm gương điển hình ngày nay:

Câu chuyện Trần Kiên

Trần Kiên – một cái tên nghe xa lạ đối với nhiều người trong chúng ta, kể cả chúng tôi. Mãi cho đến khi nghe nhiều người nhắc đến ông đầy trân trọng, và mãi cho đến khi chúng tôi đọc được quyển sách, xuất bản năm 2005, viết về ông. Trả căn biệt thự hai tầng tại Hà Nội, ông về quê bỏ tiền túi xây nhà cấp 4, nghỉ hưu. Thủ tướng đề nghị cấp ôtô cho ông nhưng ông từ chối… Đó là câu chuyện về một cựu bí thư Trung ương Đảng sống thanh bạch và liêm khiết đến kỳ lạ…

Ông Trần Kiên

Ông Trần Kiên

Ông dân Quảng Ngãi, huyện Tư Nghĩa. Cả cuộc đời trai trẻ của ông gắn liền với cuộc chiến đấu ở miền Trung và Tây nguyên. Sau khi đất nước thống nhất, ông làm bí thư tỉnh ủy một loạt tỉnh Quảng Ngãi, Nghĩa Bình, Gia Lai, Kontum, Đắc Lắc và mấy năm làm bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp. Tại Đại hội VI lịch sử, ông được bầu vào Ban bí thư Trung ương Đảng và giữ chức vụ chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra trung ương.

Khi hết nhiệm kỳ Đại hội VI, mặc dù được nhiều người tín nhiệm, ông kiên quyết xin nghỉ vì tuổi đã cao. Và “câu chuyện Trần Kiên” mà chúng tôi muốn nói bắt đầu từ đây.

…Ngay sau khi nghỉ hưu, Bí thư Trung ương Đảng Trần Kiên đã trả lại cho Nhà nước ngôi biệt thự hai tầng ở khu Trung Tự (Hà Nội), trả lại hết mọi chế độ ưu đãi dành cho cán bộ lãnh đạo cấp cao. Ông xin trung ương được trở về quê hương Quảng Ngãi sinh sống. “Gia tài của cả một đời làm cán bộ theo ông về quê tất tật gồm cả giường tủ, sách vở, lọ tương cà mắm muối chất chưa đầy một chiếc xe chở hàng nhỏ. Trong đó, giá trị nhất có lẽ là chiếc xe đạp được phân phối từ thời bao cấp”.

Ông Dương Quang Phái (vụ trưởng, Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng) nhớ lại: “Lúc đó, đồng chí Nguyễn Thanh Bình, thường trực Ban bí thư, đã giao cho Văn phòng Trung ương, Ban Tài chính quản trị trung ương và Tỉnh ủy Quảng Ngãi phải lo việc xây dựng nhà ở cho đồng chí Trần Kiên tại Quảng Ngãi. Nhưng đồng chí Trần Kiên đã xin phép trung ương là không chấp hành quyết định này vì ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, còn nhiều đồng chí, đồng bào đang gặp khó khăn. Ông nói số tiền đó nên dùng vào việc chung thì có ích lợi hơn. Đồng chí Trần Kiên chỉ xin địa phương một mảnh đất nhỏ, rồi dùng tiền tiết kiệm của hai vợ chồng để xây dựng nhà ở mà không đòi hỏi một thứ quyền lợi nào khác”.

Gọi là nghỉ hưu nhưng thật ra ông chưa bao giờ ngừng công tác. Với chiếc xe đạp cọc cạch, cựu bí thư Trung ương Đảng Trần Kiên vẫn có mặt đây đó trên các huyện miền núi, đến với đồng bào những vùng nghèo khó nhất để sau đó cùng tỉnh ủy bàn cách xóa đói giảm nghèo cho bà con.

Khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng về thăm Quảng Ngãi, thấy ông Trần Kiên đi xe đạp, Thủ tướng đã đề nghị trung ương cấp cho ông một chiếc xe hơi. Nhưng ông từ chối, xin được đi xe đạp để gần dân hơn, thấu hiểu dân chúng hơn. Ông Nguyễn Tiến Năng, nguyên trợ lý của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, kể: “Người ta thường thấy một ông già ăn bận như một lão nông với chiếc xe đạp cà tàng cùng mo cơm, khi thì lên Ba Tơ, lúc lại đến Trà Bồng, Sơn Hà… Ông ở lại hàng tuần lễ để khảo sát và bàn với anh em địa phương những biện pháp giúp dân làm ăn. Thậm chí ông bớt đi một phần tiền lương hưu của mình để mua cây giống, phân bón… giúp đồng bào. Khi chúng tôi đến thăm, thấy ông sống trong một căn nhà cấp 4 ở hẻm nhỏ thuộc thị xã Quảng Ngãi, giống như bao căn nhà khác của người dân xung quanh. Căn nhà nhỏ, thấp, chỉ vài chục mét vuông, phòng khách với những tiện nghi hết sức bình thường. Ông sống đạm bạc nhưng luôn lạc quan yêu đời”.

“Tể tướng Trần Kiên” (nhiều người gọi ông như vậy) từ chối mọi ưu đãi mà một cán bộ lãnh đạo cấp cao có quyền được hưởng, thậm chí từ chối mọi sự “hỗ trợ” mà ông cho là không đúng. “Trong năm năm công tác tại văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ngãi, mỗi lần đến căn nhà nhỏ, đơn sơ của chú Kiên, tôi lại chạnh lòng nghĩ sao mà chú sống đơn giản và thiếu thốn cả những tiện nghi tối thiểu. Một lần, được sự đồng ý của thường trực tỉnh ủy, chúng tôi mang đến “trang bị” cho chú một tủ lạnh và một máy giặt. Chú đồng ý nhận một cách rất vui vẻ… Nhưng không ngờ độ mười ngày sau, chú đi xe ôm đến cơ quan tìm gặp tôi và đưa cho tôi một bọc tiền. Chú nói hôm trước các cháu mua hộ cho chú, chú rất ưng ý, hôm nay đến hạn rút tiền tiết kiệm, chú gửi lại tiền để cháu trả lại cơ quan”. Bà Trần Thị Mộng Nam đã không bao giờ quên chuyện này mỗi khi nghĩ về ông
Ông đã dành phần lớn tiền lương và tiền tiết kiệm của mình để mua cây giống, rồi đưa lên Tây nguyên giúp đồng bào thiểu số, hướng dẫn bà con cách trồng những giống cây mới. “Chiếc xe đạp cũ kỹ chở gạo, muối, cây giống lại theo ông ra bến xe. Có lần vì tuổi già và vì chở quá nặng, ông té ngã nằm dọc đường. Ông còn thuê cả xe tải chở cây giống lên Tây nguyên giúp đồng bào. Chuyện kể rằng có lần do đêm quá khuya, nhỡ dọc đường, ông bảo lái xe cho đỗ cạnh nhà khách một cơ quan lớn. Ông vào nhà khách mượn manh chiếu cũ, rồi trải xuống thềm ngủ một giấc ngon lành. Khi những người trong nhà khách và các đồng chí tỉnh ủy “phát hiện” ra đó chính là cựu bí thư Trung ương Đảng thì ông đã đi rồi…”.

Ông sống như thế cho đến khi từ giã cõi đời, vào năm 2004. Trước khi mất, ông đã có dịp quay trở lại Hà Nội. Và trên chuyến xe trở về phương Nam, một người bạn đồng hành đã hỏi: “Anh sống như thế sau này có sợ người ta chê cười là dại không?”. Cựu bí thư Trần Kiên cười nói: “Ngay trong lúc này đã có người chê trách mình rồi đấy. Trong dịp ra Hà Nội lần này (năm 2003), mình có đến thăm ông bạn cùng thời. Ông ấy đang sống trong một cơ ngơi đàng hoàng mà ai thấy cũng phải thèm muốn. Ông bạn ấy bảo mình dại, vì nếu mình không trả cái nhà ở khu biệt thự Trung Tự thì bây giờ đã có hàng ngàn cây vàng. Hiện nay không ít vị được cấp cơ ngơi lên tới hàng ngàn mét vuông đất, mà mỗi mét vuông không dưới chục cây.

Mình bảo: anh nói đúng, tôi quả là người dại tiền thật đấy, bởi vì nếu có trong tay hàng ngàn cây vàng tôi cũng chẳng biết làm gì. Nhưng chỉ với một mảnh vườn nhỏ và một ngôi nhà cấp 4 ở cái thị xã Quảng Ngãi bé nhỏ nhất nước này, tôi cảm thấy đầy đủ hơn bao đồng chí cùng thời và trước tôi. Anh thấy đấy, hiện nay có bao đồng chí, kể cả những đồng chí vào Đảng thời 1930-1935, vẫn phải sống với mảnh vườn tự tậu xác xơ, cũng chỉ được cấp 50 triệu đồng, có lẽ chỉ vừa đủ tu sửa ngôi nhà cấp 4 xiêu vẹo khỏi quị sụp, bảo đảm đứng được mà không cúi đầu trước sức mạnh của bão tố”.

…Có lẽ “câu chuyện đồng chí Trần Kiên” đã làm chúng ta cảm thấy nhẹ lòng biết bao trước chân dung một người cộng sản. Nhưng cũng nhói lòng biết bao nhiêu khi thấy bây giờ có rất nhiều quan chức đang sống khác, đang vun vén cho mình quá cỡ, đang tham lam quá cỡ, nghĩa là đang đánh cắp trắng trợn lòng tin của hàng triệu đồng bào. Chúng tôi nhớ như in bức email của một bạn đọc gửi tới tòa soạn mới đây. Nó chỉ vỏn vẹn có một câu thôi: “Phụng sự đất nước, phụng sự nhân dân mình. Trời ơi, ước gì tất cả các quan chức của chúng ta đều hiểu được ý nghĩa của những từ ấy!”.

‘CHẤT QUAN” VÀ “CHẤT THƠ” TRƯƠNG ĐÌNH TUYỂN

Nhắc đến Bộ trưởng Trương Đình Tuyển , người dân ai cũng nhớ hình ảnh ông tại những phiên đàm phán gia nhập WTO, những phiên trả lời chất vấn trực tiếp tại các kỳ họp hàng năm của Quốc Hội khoá XI. Ông nói việc nước, việc đại sự mà  làu làu như việc nhà . Ông bao giờ cũng trực diện, thẳng thắn không rào đón, nói năng rất hào hứng. Nắm và phân tích sâu sắc tình hình thương mại đất nước và quốc tế một cách vanh vách với các số liệu dẫn chứng thuyết phục. Nhưng  ông lại nói vo, không chuẩn bị trước văn bản . Nhiều lần nguyên chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đã  khen ngợi ông sau các phiên trả lời chất vấn. Còn cử tri cả nước khi xem truyền hình nghe ông nói ai cũng thích thú tán thưởng . Nhắc đến bộ trưởng Trương Đình Tuyển,  mọi người đều nhớ hình ảnh người chèo lái con thuyền Việt Nam trong các dịp ký kết Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ, đàm phám để Mỹ giành cho Việt Nam quy chế  thương mại vĩnh viễn ( PNTR) ; đàm phán đa phương , song phương về WTO vô cùng căng thẳng, gay cấn và mưu mẹo. Ông đã nhiều lần bỏ ra khỏi phòng đàm phán. Ông đã tuyên bố với phái đoàn WTO rằng, Việt Nam không thể vào WTO với bất cứ giá nào. Nhiều người gọi ông là “ông WTO”. Việc kết thúc đàm phán vào đêm 26/10/2006, mở đường cho Việt Nam gia nhập WTO 7/11/2006, trước Hội nghị thuợng đỉnh APEC Hà Nội 2006, có lẽ là chiến công lớn nhất cuộc đời làm quan của ông. Nhìn vẻ mặt rạng rỡ của ông trong lễ kết nạp Việt Nam làm thành viên thứ 150 của WTO ở Giơnevơ Thuỵ Sĩ hôm 7/11, ta hiểu được ông đã sung sướng hạnh phúc như thế nào trước thắng lợi vang dội đó của đất nước.  Bộ trưởng Trương Đình Tuyển là “tư lệnh” Việt Nam trong 14 phiên trường kỳ đàm phán kéo dài 11 năm, trực tiếp là 8 năm 2 tháng và 26 ngày ròng rã . Công lao và tâm huyết đó nhất định  sẽ được lịch sử  ghi nhận.

Bộ trưởng Trương Đình Tuyển

Bộ trưởng Trương Đình Tuyển

“Chất quan” của ông WTOTrương Đình Tuyển là chất ham học, ham đọc, chất  liêm sĩ  thể hiện rất đậm nét trong công việc và sinh hoạt hàng ngày của ông. Tôi là phóng viên báo Thương Mại, mấy lần theo đoàn  tháp tùng Bộ trưởng đi công cán ở miền Trung. Quê vợ tôi lại ở Nghệ An, mỗi lần tôi về thăm, bố vợ tôi, nguyên phó bí thư, chủ tịch một huyện đã nghỉ hưu từ thời bao cấp,  kể rất nhiều giai thoại về bí thư tỉnh uỷ Trương Đình Tuyển.  Nhờ thế mà tôi biết nhiều nét tính cách đặc biệt của ông Bộ trưởng lòng dạ  thẳng ngay này. Một lần Bộ trưởng Trương Đình Tuyển đi máy bay từ TP Hồ Chí Minh ra Huế để họp với các doanh nghiệp trên địa bàn. Tôi thường trú ở Huế nên theo xe của Sở Thương mại về sân bay Phú Bài đón ông. Khi bộ trưởng xuất hiện ở cửa máy bay, tôi thấy ông một tay xách cặp, một tay ôm vào ngực một chồng dày nào tài liệu, sách và báo xuống cầu thang máy bay. Hình như trên máy bay ông mãi đọc tài liệu, đọc báo, nên khi máy bay dừng , ông quên sắp xếp vào cặp. Thấy đoàn  Huế ra sân bay đón,  ông quên mất là mình đang ôm chồng tài liệu, ông giơ tay chào, thế là tài liệu  bay tung toé khắp nơi. Cậu Thìn lái xe và tôi phải chạy đuổi theo gió để nhặt lại. Thế mà lên xe ông lại tiếp tục đọc. Khi mở cửa xe để vào khách sạn, ông lại làm rơi chồng tài liệu một lần nữa . Ông tranh thủ đọc và đọc chăm chú từng phút như thế, chả trách ai  hỏi gì ông cũng biết , nói năng , trả lời đâu ra đấy.

Khi ngồi chủ trì cuộc họp, ông ít khi cà vạt, com lê,  Ở nhiều cuộc Hội nghị  Thương mại hàng năm, kể cả khi đón thủ tướng hay phó thủ tướng về làm việc với Bộ, tôi cũng ít thấy ông  com lê cà vạt. Hình như ông  không thích loại y phục lễ lạc gò bó này. Ngồi họp, tay ông chống má, mắt lim dim như ngủ. Mặt ông hốc hác, phong trần.  Nhưng  khi nào có đại biểu nào đó nói ý gì đó “có vấn đề”, ông  ngồi thẳng đậy, mở cuốn sổ trước mặt ghi ghi , rồi lại ngồi lim dim lắng nghe. Có lần tại cuộc họp với doanh nghiệp Thương mại Quảng Trị , anh Nguyễn Thế Phiệt, giám đốc Công ty Thương  mại huyện miền núi Hương Hoá đọc bản báo cáo viết sẵn cho Bộ trưởng nghe tình hình công ty  của mình.  Đang  nghe,  bỗng ông Tuyển rời vị trí đến  đứng cạnh anh Phiệt, vỗ vai xin ngắt lời .

Ông Tuyển hỏi :

Anh là giám đốc hay cán bộ công ty?”.

Anh Phiệt mặt tái mét, run như cầy sấy:

– Dạ, báo cáo Bộ trưởng, em là giám đốc ạ !

– Giám đốc sao không nhớ việc công ty mà phải đọc báo cáo viết sẵn. Đưa bản này cho nhà báo Ngô Minh. Tôi hỏi gì anh trả lời nấy, được không ?  Anh xem, tôi là Bộ trưởng, công việc cả ngành mà họp với các anh tôi có đọc bài viết sẵn bao giờ đâu !

Sau đó giám đốc nào lên cũng mở sổ ra và nói, không đọc bài viết sẵn nữa. Bữa ấy tôi mừng thầm có được một lúc chục bản báo cáo, kiến nghị, lại khỏi phải ghi chép số liệu.  Thời kỳ này, khối doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đang “ đấu tranh” chuyện “hai giá”. Tức là giá máy bay, giá tham quan du lịch, giá dịch vụ điện nước cho người nước  ngoài đều cao hơn giá cho người trong nước gấp gần chục lần. Trong cuộc toạ đàm với các doanh nghiệp ở Huế , ông giám đốc Công ty  xi măng Lucvaxi ở Huế,  người Hông Kông, đứng lên đỏ mặt nói rất căng thẳng về vấn đề “hai giá”, đòi Chính phủ  Việt Nam phải cùng một giá dịch vụ ngay tức khắc. Tôi thấy bộ trường Trương Đình Tuyển ghi chép mấy câu, rồi đến gần ông giám đốc người Hồng Kông , giải thích một cách thông minh bất ngờ và thú vị :

– Thưa ngài giám đốc, là thành viên Chính phủ, tôi hiểu tâm trạng bức xúc của Ngài. Tôi cũng rất  bức xúc. Nhưng  theo tôi biết thì Chính phủ Việt Nam đang cân nhắc giữa việc điều chỉnh “một giá” dịch vụ cho người nước ngoài  với việc điều chỉnh lại tiền lương khởi điểm cho lao động Việt Nam làm trong các công ty liên doanh, hay 100% vốn nước ngoài. Vì mức lương khởi điểm 50 “đô” là rất thấp so với các nước trong khu vực. Theo ngài thì điều chỉnh cùng một lúc, hay cái gì trước cái gì sau ?

Ông giám đốc liên doanh người Hông Kông sau khi nghe dịch đã chắp tay vái vái :” Tôi hiểu, tôi hiểu. Xin ngài xá cho!”. Đó là sự đối đáp thông minh, nhạy cảm rất cần thiết của nhà đàm phán trong đấu tranh với đối tác nước ngoài để giành giật từng  điểm có lợi cho đất nước về kinh tế.

Ông Tuyển là người không thích quan cách. Tôi đến phòng  Bí thư tỉnh uỷ Nghệ An của ông, tôi thấy góc phòng có bếp ga, song nồi, chén bát. Tôi ngạc nhiên hỏi :” Thế không có ai phục vụ cho anh à ?”. Anh cười :” Làm sao phải có thêm một người phục vụ ! Mình ăn được thì  nấu được chứ” . Ông tự đạp xe đạp đi chợ Vinh mua thực phẩm về nấu lấy ăn. Nấu một bữa, ăn cả ngày.  Ngày nghỉ cuối tuần , không họp hành gì , ông nhảy tàu hoả ra Hà Nội với vợ con. Tôi nghe anh em cán bộ tỉnh uỷ Nghệ An  kể, văn phòng tỉnh uỷ trang bị cho ông cái tủ lạnh, nhưng ông không nhận. Ông chỉ đề nghị mua cái bình gas, hết bao nhiêu tiền ông trả.  Trong lúc bí thư, chủ tịch nhiều tỉnh , huyện, giám đốc các sở đi xem bóng đá phải là  xe con , dù nhà chỉ cách sân vận động cây số. Còn bí thư tỉnh  uỷ Trương Đình Tuyển vẫn đạp xe đạp ra sân vận động xem bóng đá.

Ông Tuyển là người thẳng thắm và liêm khiết, rất tiết kiệm của công.  Khi ông được điều về  làm bí thư Nghệ An, lãnh đạo tỉnh bàn nhau định phân phối đám đất và xây nhà cho ông theo tiêu chuẩn chung. Khi hỏi ý liến ông, ông gắt :” Tôi đã có nhà ở Hà Nội rồi”! Trong lúc đó nhiều ông quan tìm mọi cách để  biến nhà công vụ thành nhà riêng. Dịp Đại hội Đảng bộ các huyện, văn phòng tỉnh uỷ  Nghệ An bố trí xe con cho Bí thư, các phó bí thư, các Trương ban. Còn anh em chuyên viên thì đi chung xe 16 chỗ  ngồi. Đó là “tập tục” xưa nay, nên họ không cần hỏi ý kiến Bí thư mới.  Đến giờ xuất phát , thấy xe con, xe ca đỗ san sát trong sân, ông Tuyển ngạc nhiên hỏi :” Xe đi đâu mà nhiều thế này”. Một ông văn phòng thưa :” Thưa anh, xe đi Đại hội huyên…”. Ông  đỏ mặt phán :” Các xe con về. Còn tất cả lên xe ca. Tiền đâu mà xe cộ rầm rầm thế?”. Lần khác,  ông nhận được giấy mời dự Đại hội Đảng bộ huyện nọ. Đúng giờ ông nhờ một anh cán bộ chở xe máy xuống huyện. Toàn Ban chấp hành  huyện uỷ  vì không biết  mặt bí thư mới, nên cứ ra cổng để đón đoàn xe của tỉnh uỷ về dự Đại hội. Chờ mãi, đến khi thấy chiếc xe ca chở  quan chức tỉnh về, hỏi ra thì mọi người  mới chưng hửng : Bí thư tỉnh uỷ mới đang ngồi đọc tài liệu  trong hội trường đại hội từ lâu rồi! Lên dự Đại hội Đảng bộ một huyên miền núi, sau khi bầu báng xong, kết thúc hội nghị, huyện uỷ chiêu đãi rất thịnh soạn . Cuối bữa tiệc, Bí thư tỉnh uỷ hỏi Bí thư huyện uỷ mới :” Ông làm sao có nhiều tiền mà chiêu đãi nhiều người thịnh soạn thế này ?”. Ông bí thư huyện tái mặt :” Dạ thưa anh, bốn năm năm mới có một lần”. Ông Tuyển nghiêm sắc mặt :” Tiền là tiền thuế của dân, miền núi lại nghèo, dân đang đói, ông không xót sao ? Còn đi dự đại hội xã thì họp xong là ông chuồn, vì ngại xã phải mời cơm. Rủ anh em cùng đi về dọc đường ăn quán. Khi ăn quán ông thường giành “quyền” trả tiền vì “ Lương tôi cao hơn các cậu” . Bà con tiểu thương bán thực phẩm chợ Vinh do xem tivi nên biết mặt ông Tuyển. Khi mua rau, cá, ông hỏi bà con “có  bán đắt không đấy ?”.Bà con trả lời ngay :” Làm bí thư tỉnh uỷ mà tự đi chợ nấu ăn , là bà con biết “loại” người nào rồi. Bà con thương lắm, tin lắm, không bán đắt mô !”. Ông Tuyển về làm bí thư Nghệ An chưa trọn nhiệm kỳ, mà có huyện miền núi như Tân Kỳ ông đến thị sát tới 3 lần.Ông đi  cơ sở không bao giờ báo trước. Không bao giờ để  huyện hay nông trường, nhà máy lo chỗ ngủ, đãi đằng cơm nước, mà tất cả đều do Văn phòng tỉnh uỷ chuẩn bị  theo sự chỉ đạo của ông.

Người dân Nghệ An còn kể nhiều giai thoại nữa, như chuyện ông Tuyển  cứ sau mỗi cái Tết lại nộp vào ngân quỹ của tỉnh hàng tỷ đồng. Đó là tiền mà các quan chức Nghệ AN mang ra Hà Nội “chúc Tết” gia đình Bí thư ông khi ông không ở nhà. Ông bắt vợ nhận và cho vào một cái hòm, như “hòm công đức”.v.v..

Thời về làm Bí thư tỉnh uỷ Nghệ An, “chất quan” dân giã, bộc trực và  khí khái đó  rất kỵ rơ với một loạt ông quan liêu, tham nhũng, say xỉn, hạch sách nhân dân, tiêu tiền dân như nước…  ở các huyên  đã có tới  sáu bí thư , phó bí thư huyện uỷ đã bị ông Tuyển cách chức. Nghe tin này, dân Nghệ An ai cũng hởi lòng hởi dạ.

Đó là những câu chuyện thật đã thành  giai thoại về Trương Đình Tuyển mà  bố vợ tôi và các lão thành cách mạng Nghệ An rất hay kể.  Giai thoại là chuyện dân gian, được dân tin yêu thế nào, phải là “chất quan” thế nào mới  có nhiều giai thoại đọng lại trong  lòng dân như thế.  Về chuyện xe cộ , tôi cũng mục sở thị nhiều lần về “chất quan” Trương Đình Tuyển. Một lần Đoàn công tác bộ Thương mại từ Huế ra Quảng Trị. Sở thương mại tỉnh cho hai chiếc xe đến chở đoàn.  Một chiếc xe con  bốn chỗ  và một chiếc xe 22 chỗ ngồi. Bộ trưởng Trương Đình Tuyển  ra khỏi khách sạn, lên thẳng chiếc xe ca ngồi vào vị trí thứ hai sau lưng lái xe. Lãnh đạo tỉnh thiết tha đề nghị Bộ trưởng xuống đi xe con . Ông cười bảo :” Các ông vẽ chuyện. Đây ra Đông Hà xe này chở đoàn còn rộng, đi thêm xe con làm gì cho tốn !”.  Từ Quảng Trị ra Quảng Bình cũng diễn ra cảnh tượng đó. Lần này thì Bộ trưởng nổi nóng đuổi  anh lái xe con :“ Em đưa xe về ngay!”. Những cử chỉ bình dân, thân tình  như vậy tôi chưa bao giờ thấy ở những ông quan tỉnh, quan bộ. Họ “một bước là ngựa xe đứng đi quân hầu chật”, nhậu nhẹt luôn có “em út” kề cạnh đến lúc say xỉn, còn lái xe con thì “đỗ bên ngoài chờ thủ trưởng”!  Đêm đó ra Đồng Hới, sáng hôm sau, anh Hải thư ký bộ trưởng đưa cho ông Tuyển hai cây thuốc “ba số” do lái xe Quảng Trị gửi lại, nói là “ Chi cục Quản lý thị trường Quảng Trị biếu”. Dù là người rất nghiện thuốc lá, nhưng nghe chuyện đó ông trợn mắt :” Ai lại đi bắt thuốc lá lậu rồi biếu Bộ trưởng bao giờ ! Nhưng xe họ đi  rồi nên chia  hết cho mọi người trong đoàn để biết mùi hàng lậu thơm tho thế nào“. Tôi  nói :” Em không hút thuốc, lấy làm gì”. Ông Tuyển cười :” Nhà thơ không hút cũng phải nhận để tặng  bạn thơ nghiện”.

Ấn tượng nhất đối với tôi là bộ trưởng Trương Đình Tuyển rất yêu văn chương và quý mến các nhà văn. Ông thân thiết và hay đàm đạo  văn chương với các nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, Hoàng Trần Cương….Mỗi lần vô Huế ông đều gọi cho tôi.   Khi ông mới lên bộ trưởng,  cái tên Phùng Quán vẫn  gây sự sợ sệt đối với nhiều người. Thế mà ông dám mời nhà văn Phùng Quán đến cơ quan Bộ Thương Mại đọc thơ. Vào Huế , dù họp hành cấp tập, tối  đến ông vẫn bảo  tôi rủ mấy anh chị nhà thơ Huế như Nguyễn Khắc Thach, Mai Văn Hoan, Hồ Thế Hà…đến chỗ ông ở để gặp gỡ và đọc thơ cho vui. Trong những cuộc như thế, ông chăm chú nghe thơ anh em và say sưa đọc những bài thơ mới của mình cho đến tận khuya.

Ông là thi sĩ đích thực. Thơ ông rất tâm trạng, rất  mới, chứ không như “thơ lãnh đạo” xưa nay. Ông có hàng mấy trăm bài thơ chép trong sổ tay. Có lần ở Đông Hà, Quảng Trị, tỉnh uỷ, UBND tỉnh chiêu đãi. Sau mấy vại bia là tiết mục văn nghệ của các em xinh đẹp. Nghe  ba cô gái Quảng Trị hát, máu thơ nổi lên, không phân biệt quan hay dân, bộ trưởng  Tuyển đứng lên “xin đáp lễ” bằng thơ. Ông say sưa đọc một lúc đến  năm bài thơ của mình. Toàn những bài thơ tâm trạng rất hay. Thơ ông da diết, trí tuệ . Bài thơ  viết trong chuyến đi thăm  lăng mộ Taj Mahal, Di sản thế giới ở Ấn Độ  ông có bài thơ “ Viết ở lâu đài Batmahal”. Xin được chép nguyên văn :

Tôi đến thăm lâu đài Batmahan
                                            Đọc những trang văn
                                           Trên nền đá trắng
                                           Tôi bồi hồi nghe bao chuyện buồn vui
                                           Đã truyền đi tiếng vọng
                                           Kiếp người !
                                           Bátmahan sừng sững giữa trời
                                           Pho sử đá ghi cảnh đời nghịch lý
                                           Vua khóc vợ xây đền đài kỳ vỹ
                                           Tôi khóc người thợ đá
                                           Đá ơi !
                                           Và sông Hằng nước mắt cứ đầy vơi

Ông còn có nhiều câu thơ hay khác như Không đa mang cũng phong trần / Không đam mê cũng đôi lần liêu xiêu… Sang Nga, đi bên sông Nê Va gặp cô gái Hồi  choàng khăn che mặt, ông viết :”Mắt mồ côi anh gặp mắt em rồi”.  Có lần  một số Tết  báo Thương Mại có in một bài thơ ông viết tặng vợ nhưng ký một bút danh khác. Bài thơ ghi công vợ bao năm về quê chăm lo việc họ, việc nhà, “ Còn anh năm tháng hành nghề phiêu diêu”. Tôi hỏi :” Sao anh làm bộ trưởng lại gọi là  “hành nghề phiêu điêu ?”. Anh cười :” Luật pháp, chính sách mình chưa chặt, còn nhiều kẽ hở để bọn xấu lợi dụng, nên làm bộ trưởng bây giờ “chết” lúc nào không biết, không phiêu diêu là gì nữa !”. Ông Tuyển có  cả một tập thơ tình yêu. Toàn những bài không có đầu đề. Đó là những bài thơ “ khóc” một cuộc tình  thời trai trẻ. Hai người yêu nhau thời sinh viên, nhưng không ai dám thổ lộ. Khi ông đi bộ đội  trở về Hà Nội lấy vợ, trong nột chuyến tàu điện Hà Nội thì gặp nàng . Tình cảm lại dâng trào :

Tuổi  hai mươi đôi môi đỏ mọng
                                    Em trao cho ai những chiếc hôn đầu
                                    Dẫu rất yêu em
                                    Anh chỉ được hôn lên mái tóc
                                    Cái e ấp này chẳng tại anh đâu…
                             Hay:
                                     Vụng về và chậm muộn
                                     Sao cứ nhiều đam mê
                                    Thu có còn đủ nắng
                                     Cho xôn xao mùa về…

Gần đây nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo có đọc cho tôi nghe mấy câu  thơ mới của Trương Đình Tuyển  phác hoạ rất đúng chân dung của ông :

Tôi khảo cổ chính tôi và thấy
                                      Một xấp dày ngu ngơ

“Ngu ngơ” nghĩa là không biết những mánh lới để chạy chức chạy quyền ăn tiền ăn đất. Cái “chất ngu ngơ” đó là chất kẻ sĩ, chất thi sĩ không màng danh lợi.  Nghe nói vừa qua, có vị quan cấp trên  có gợi ý  ông Tuyển lên làm chức cao hơn, nhưng ông từ chối, không dám nhận. Ông mong mỏi sau đàm phán WTO xong , được nghỉ việc quan  để về viết hồi ký, làm thơ. Hồi ông đang bộ trưởng Thương  Mại lần thứ nhất , tôi hỏi ông :” Sao anh không xuất bản thơ mình? Thơ anh có chất  lắm”. Ông cười nheo mắt :” Mình in thơ bây giờ thiên hạ sẽ bảo  Bộ trưởng  lấy  “tiền chùa” in thơ à ! . Mặc dù mình không thèm làm việc hạ tiện đó, họ vẫn cho là như thế, đúng không?. In thơ thì vội gì. Nàng thơ bỏ mình mới sợ, Đúng không nhà thơ Ngô Minh ?“. Vâng, ông bảo không  xa nữa đâu, khi về hưu ông sẽ in một tập thơ dày gồm  ba phần : Thơ cho mọi người. Thơ cho một người . Và thơ cho mình…

Vâng, cái “chất quan” Trương Đình Tuyển cũng là chất thơ làm xúc động lòng người, làm dân tin yêu, cảm phục. Ôi giá mà tất cả các “quan” của ta ai cũng có “chất quan”  giống như “ông  WTO” Trương đình Tuyển…

Ngô Minh

Phạm Văn Xô – câu chuyện “từ ổ bánh mì đến 4.000 m2 đất”

Ông sinh 1910 tại xã Phú Cốc (Phong Cốc?), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
Ông tham gia cách mạng 1930, vào Đảng 1931, nguyên bí thư Tỉnh ủy Vientiane, bí thư Xứ ủy Lào, nguyên ủy viên thường vụ Đặc ủy Đảng bộ Việt kiều, bí thư Đảng bộ Tây Bắc Cao Miên, phó bí thư toàn Miên, thường vụ Xứ ủy Nam bộ, ủy viên thường vụ Trung ương Cục miền Nam, ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa III, phó trưởng Ban Kiểm tra Trung ương, đã nghỉ hưu.

Phạm Văn Xô

Phạm Văn Xô

Ông đã được khen thưởng: Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương khác.

Đồng chí Phạm Văn Xô (Trần Văn Tư – ông Tư Thường – Hai Xô) đã từ trần ngày 17-8-2005

Ổ bánh mỳ của Đảng

Chắc bây giờ không ai đi bán bánh mì để nuôi Đảng hoạt động. Ngược lại, nhiều người khi trở thành quan chức đã tìm mọi cách để “xơi” những “ổ bánh mì của Đảng”…

Ngày xưa, một ổ bánh mì của Đảng cũng không dám ăn, dù bụng đói. Hơn 60 năm sau, cũng chính con người ấy đã trả lại cho Nhà nước miếng đất 4.000m2 khá đẹp tại TP.HCM, rồi chọn lấy một chỗ ở bình thường, như dân thường.
Chuyện ấy có lẽ đã cũ với không ít người, nhưng thật ra vẫn mới đối với nhiều người trong chúng ta. Đặc biệt, khi mà chuyện lem nhem về nhà cửa, đất đai của nhiều quan chức và cán bộ lãnh đạo vẫn là chuyện lớn cần giải quyết. Và nhiều đại biểu Quốc hội cũng đã lên tiếng ngay tại kỳ họp này.

Nhân vật mà chúng tôi muốn nói đến chính là ông Phạm Văn Xô, thường gọi là ông Hai Xô. “Các cậu đã viết về đồng chí Trần Kiên, vậy thì không thể không nhắc đến con người này”. Nhà báo Hữu Thọ (nguyên trợ lý của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh) nói vậy, khi trao cho phóng viên TS một cuốn sách vừa ra lò…

…Gấp sách lại, tôi nhớ mãi một chi tiết nhỏ: vào thời trẻ, ông Hai Xô đã từng đi bán bánh mì để lấy tiền góp vào quĩ hoạt động của Đảng.

Có lúc đói quá, nhưng ông vẫn nhất định không ăn dù chỉ một ổ. Ông tâm sự: sợ mình ăn xong rồi không có tiền bù lại, Đảng đã khó khăn càng khó khăn hơn (lúc đó Đảng Cộng sản Đông Dương vừa mới thành lập và ông vào Đảng tại Sài Gòn cũng vào năm ấy – 1930).

Ông Hai Xô từng bôn ba hoạt động khắp Đông Dương, kể cả Thái Lan. Ông trở thành trung ương ủy viên ngay tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng ở Macau. Một “ông trùm kinh tài Việt cộng” thời kháng chiến chống Mỹ và phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra trung ương sau ngày đất nước thống nhất.

Với cương vị đó, công lao đó, ông Phạm Văn Xô được UBND TP.HCM cấp một miếng đất 4.000m2 ở bán đảo Thanh Đa (quận Bình Thạnh, TP.HCM). Ông về đó cất nhà, nuôi heo, thả cá, trồng cây… để hưởng những ngày thanh bình, sau mấy mươi năm hiến dâng đời mình cho hai cuộc kháng chiến.

Nhưng thật bất ngờ, một ngày kia ông quyết định trả lại cơ ngơi trị giá hàng ngàn cây vàng đó cho UBND TP.HCM, rồi chuyển đến một ngôi nhà nhỏ hơn. Và những năm cuối đời ông về sống trong một cư xá ở quận Bình Thạnh. Cũng giống như ông Trần Kiên, nhiều người nói ông Hai Xô là “dại”. Nhưng, “cán bộ cứ chiếm đất nhiều như thế, coi sao được. Mai này dân lấy chỗ đâu mà ở”. Ông tâm sự vậy. Có lẽ ngày xưa ông không dám ăn một “ổ bánh mì của Đảng” vì lo Đảng còn nghèo. Còn ngày nay ông trả lại cơ ngơi rộng lớn của mình, chắc ông lo lòng dân không thuận, trước những “đặc quyền đặc lợi” được ban phát tùy tiện cho nhiều cán bộ lãnh đạo.

Miếng đất ngày xưa của ông Hai Xô hiện là trụ sở một cơ quan nhà nước. Thật là ngược đời, khi thấy bây giờ vô số trụ sở cơ quan, nhà công vụ đã và đang biến dần thành nhà riêng quan chức. Không ít trong số đó thực chất là những vụ chiếm đoạt ngang nhiên và trắng trợn tài sản nhà nước. Nhiều vị đã toan tính thiệt hơn đến phát sợ. Mà ông trước “làm” rồi, ông sau cũng “làm” theo, cứ như một chuyện đương nhiên ở chốn quan trường thời nay.

Chắc bây giờ không ai đi bán bánh mì để lấy tiền nuôi Đảng hoạt động. Ngược lại, nhiều người khi trở thành quan chức đã tìm mọi cách để “xơi” những “ổ bánh mì của Đảng”, những “ổ bánh mì của dân chúng”. Thậm chí, họ còn tìm cách “xơi” luôn cả cái lò bánh mì.

Câu chuyện “từ ổ bánh mì đến 4.000m2 đất” của ông Hai Xô không bao giờ cũ!

BÙI THANH

Nguồn: Nguyentandung.org

Related Posts

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s